Muốn biến Việt Nam thành vật thí nghiệm?

Những người đòi hỏi đa đảng khi tranh luận sở trường của họ là lấy 10 nước phát triển nhất thế giới và cho rằng đa đảng là yếu tố quyết định cho sự phát triển của đất nước, ổn định xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Với họ đa đảng là chìa khóa cho sự thành công của một chế độ và cũng là sự bảo đảm cho sự tồn vong của chính chế độ ấy.

Trong tất cả các cuộc tranh luận họ chỉ nhắc tới những ưu điểm, nhưng hình như họ lờ đi những khuyết điểm của nó, cũng như những điều kiện cần và đủ cho một thể chế đa đảng.

Họ muốn Việt Nam áp dụng một mô hình mà theo họ là dân chủ từ các quốc gia khác, chẳng hạn như các nước phương tây. Họ cho rằng đó là chân lý và chỉ có chân lý ấy mới bảo đảm được tương lai của nước Việt nam.

Vậy khi mang một mô hình thành công của xã hội khác về Việt nam để áp dụng mà không biết tới điều kiện cần và đủ thì có thành công hay không?

Ai trong số chúng ta cũng đều được nghe qua những đại gia từ ở Việt nam tới trên thế giới tiết lộ bí quyết làm giàu.
Ai cũng nghe qua bí quyết học hành thành đạt của các trí thức nổi tiếng thế giới.
Nhưng có ai trong số chúng ta làm theo mà sẽ thành công như họ? Hay là khi ấy sẽ ngã bổ chửng ra mà vẫn không hiểu vì sao?

Anh muốn làm giàu không phải làm theo họ là sẽ giàu, mà còn phải xem lại bản thân mình, xem lại thiên thời địa lợi. Chứ nếu cứ làm như họ là sẽ giàu thì chắc chắn không có ai nghèo.

Anh muốn làm trí thức như họ, anh cũng phải có nền tảng nhất định trong con người, hoặc nói chính xác anh cũng phải có chất xám hơn người khác. Nếu không anh học như người ta thì anh cũng chỉ có thể trở thành một con mọt sách, một con vẹt không hơn không kém! Chứ mà ai học theo công thức của người ta mà thành tài được thì thế gian này rất tất cả là Albert Einstein ?

Như vậy thì Việt nam liệu đã có đầy đủ yếu tố cho đa đảng hay chưa? Hay là khi ấy xã hội loạn lạc thì lại bảo nhau quay về độc đảng? Vậy chẳng hóa ra biến dân tộc Việt nam thành vật thí nghiệm hay sao?

Karel Phùng

“Hội đồng công luật công án Bia Sơn”: Lố bịch và phạm pháp

Với nhiều người, ngay cái tên dài dòng của tổ chức ấy – nghe đã thấy nực cười rồi, chứ chẳng cần nói đến mục tiêu hoạt động “vô tiền khoáng hậu” mà Hội đồng công luật công án Bia Sơn miết mải hướng tới. Công an tỉnh Phú Yên đã sớm phát hiện, theo dõi và thực hiện kế hoạch triệt phá tận “hang ổ” của tổ chức quái gở này.

Mờ ám và ảo vọng

“Hội đồng công luật công án Bia Sơn” có tiền thân là tổ chức “Ân đàn đại đạo” (thành lập năm 1975) do Phan Văn Thu (SN 1948, ở xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) cầm đầu. Sau khi tổ chức này bị đập tan, Phan Văn Thu bị đưa đi tập trung cải tạo, đến năm 1976 thì y trốn trại, sau đó bị bắt trở lại. Sau đó Phan Văn Thu ra trại, vào Đồng Nai sinh sống năm 1984 và đổi tên là Trần Công.

Khu du lịch sinh thái Đá Bia

Từ năm 2004 đến 2011, dưới cái tên Trần Công, y tạo dựng khu du lịch sinh thái Đá Bia, lấy nơi đây làm sào huyệt chỉ huy hoạt động để bí mật phát triển tổ chức phản động có danh xưng là “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”. Tổ chức này được y phát triển ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước với trên 300 đối tượng tham gia, trong đó có cả một số Việt kiều. Ở mỗi tỉnh, thành tổ chức này hình thành các chân rết với hình thức “pháp hội” với âm mưu chính là lật đổ chính quyền, phá hoại thành quả xây dựng, đường hướng phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước.

Trần Công đã sáng lập ra cái gọi là “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”, với cơ cấu tổ chức do y cầm đầu, bên dưới có tổng trưởng các ban và các pháp hội địa phương. Trong đó có Ban đối nội do Võ Thành Lê (SN 1955, trú ở xã Hòa Thành, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên) làm trưởng ban, Ban giám tra, ban hành luật do Tạ Khu làm trưởng ban, Ban đối ngoại do Vương Tấn Sơn làm trưởng ban, Ban tổ chức nghi lễ do Lê Phúc (SN 1951, ở TP Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận) làm trưởng ban, Ban hoằng pháp do Nguyễn Kỳ Lạc (trú khu phố Triều Sơn Đông, phường Xuân Đài, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên) làm trưởng ban, Ban khoa giáo do Lê Duy Lộc (SN 1956, quê ở thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận) làm trưởng ban, Ban tài chính do Lê Duy Lộc làm trưởng ban, Ban an ninh, hồng vệ pháp do Trần Phi Dũng làm trưởng ban, Ban đời sống do Võ Thị Hạnh làm trưởng ban.

Trần Công và các “cộng sự” đã vận động được trên 300 đối tượng tham gia. Bọn chúng chủ trương áp dụng phương thức “bất chiến tự nhiên thành”, cốt sao lôi kéo ngày càng đông số người tham gia vào tổ chức.

Chế tác “truyền thuyết” nhảm nhí

Trần Công cùng các “cộng sự” của mình đã thêu dệt truyền thuyết về Cao Biền của Trung Quốc khi xưa đã từng đặt chân tới khu vực núi Đá Bia thấy đây là vùng đất địa linh, có Thánh địa mạch Rồng sẽ sinh ra nhân tài, hào kiệt nên đã yểm huyệt Mạch Kim Ngưu nhưng chưa yểm xong thì bị giết chết, chôn ở Long Thủy. Theo bộ sấm Thái Ất Thiên Cơ của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ có nhân kiệt là Kim Ngưu phá điền giáng trần có tên Trần Công với sự nghiệp phá điền, xuất bất chiến tự nhiên thành, sau cùng sẽ lập một quốc gia mới.

Phan Văn Thu – cầm đầu tổ chức

Trần Công cho rằng, mình là nhân vật chính trong sấm truyền vì Trần Công là người ăn nhai lại, có bao tử hai ngăn tức Âm dương bào tạng tướng, là Kim Ngưu, trong tay có chữ Hán Vương, có chân mạng Thiên tử làm vua, hiện đang thuyết (sáng tạo) được Cửu kinh Minh triết (xưa nay chỉ có Phật Di Lặc mới thuyết được Cửu kinh), sáng tạo ra chủ thuyết Công bản, Cương lĩnh Công luật Đại hóa toàn cầu. Đây là chủ thuyết mới, tiên tiến nhất. Ai theo Trần Công sẽ được giải thoát, có công đức lớn và sẽ có sự nghiệp lớn sau này.

Công án (nhiệm vụ) của Trần Công được gọi là “Công án Bia Sơn” chính là Công án xuất bất chiến tự nhiên thành. Chủ thuyết Công bản được hiểu Công là chung, Bản là gốc, gốc của cái chung tức là sự công bằng cho cái chung. Ai đi theo y, nghe được lời, học được kinh triết cũng đều được giải thoát. Ai cùng làm sự nghiệp và đi theo Trần Công thì sẽ được chia ban bằng sự nghiệp. Ai cúng dường cho Trần Công là có được công đức rất lớn, sẽ được trả gấp trăm lần. Ai chối bỏ Trần Công là vì nghiệp quá nặng, phải rơi vào địa ngục. Ai phản thì người đó phải chết, ai cản trở việc làm thì người đó phải bị điên. Ai phụ tá đến ngày Trần Công ra công chức sẽ được rất nhiều ân sướng.

Một hình thức khác để lôi kéo, ru ngủ mọi người tham gia vào “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”, Trần Công đã tổ chức thuyết giảng, tuyên truyền “Cửu kinh Minh triết” với nhiều nội dung mơ hồ như: “Thống thức chân quang kinh”, “Hệ thống kinh quỹ bát đoạn”, “Chân tính ánh sáng bất đoạn sát na trong hệ thống Tam thiên Đại thiên thế giới”, “Nguyên lý pháp tính bất diệt”… Hàng ngày, buổi sáng từ 4 đến 5 giờ 30, buổi chiều từ 18 đến 21giờ, Trần Công trực tiếp thuyết giảng tại Khu nhà hàng Kim Việt để lôi kéo mọi người tham gia.

Trần Công cũng tự đặt cho mình các pháp danh như: Tôn Luân, Kim Ngưu phá điền, Ngọc đảnh, Ngọc Phật, Chơn đảnh quang minh, Chơn đảnh Minh sỹ, Tâm Linh, Thành Tâm, Đức Quang Minh, Ngọc đảnh Đại hóa Ứng thân Phật… Tuy nhiên, “ông Phật” này có đến 5 bà vợ và rất nhiều con cháu.

Cơ ngơi của “Kim Ngưu phá điền”

Công an đọc lệnh bắt Lê Đức Động

Khu du lịch sinh thái Đá Bia – chi nhánh Công ty TNHH Quỳnh Long có tổng diện tích 48,1ha được bao bọc bởi rừng cấm Đèo Cả, có địa hình phức tạp. Bên trong khuôn viên là quần thể hơn 60 công trình kiến trúc được xây dựng rải rác trên các triền núi. Để tạo vỏ bọc trá hình, Trần Công đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc kiên cố với những cái tên khá mỹ miều như Động Bích Lạp, Động Tam Thanh, Động Đại Bi, Ngọc Động, Thạch Linh cung, nhà hàng Hoàng Trang… Tại mỗi công trình này, các đối tượng trong tổ chức vừa sử dụng làm nơi ở, vừa lấy đó làm nơi làm việc, tổ chức các hoạt động và cất giữ tài liệu. Trong “căn cứ” đó Lê Duy Lộc được trang bị đầy đủ điện thoại không dây, máy tính xách tay kết nối 3G, đầu ghi đĩa DVD để phục vụ cho việc soạn thảo văn bản, in đĩa hình cho tổ chức và liên lạc qua Internet với các cá nhân trong và ngoài nước.

Còn khu vực quần thể động Tam Thanh là nơi sinh sống của cả gia đình Lê Đức Động – Phó ban Hồng vệ pháp. Trần Công lựa chọn Ngọc Động là nơi đắc địa để ẩn náu, sinh sống với vợ nhỏ và hoạt động.

Vải thưa che mắt thánh

Mặc dù núp bóng kinh doanh Khu du lịch sinh thái Đá Bia, song mọi hoạt động của tổ chức này vẫn không thể lọt qua tai mắt của quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh trên địa bàn. Sau một thời gian xây dựng chuyên án đấu tranh một cách kỹ lưỡng, bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ, lực lượng Công an Phú Yên đã thành lập Chuyên án C611, thu thập đầy đủ chứng cứ phạm tội của tổ chức “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”. 6 giờ ngày 5/2/2012, tại trụ sở công an tỉnh, trưởng ban chuyên án đã ra lệnh xuất phát. Đúng 6h45, các lực lượng nghiệp vụ Công an Phú Yên, hơn 200 chiến sĩ đã đồng loạt tấn công vào trung tâm chỉ huy hoạt động của tổ chức chính trị phản động này – Khu du lịch sinh thái Đá Bia.

Công an đọc lệnh bắt Lê Duy Lộc

Rất nhanh gọn, lệnh bắt, khám xét được nhanh chóng tiến hành đối với các đối tượng Lê Duy Lộc, Võ Thành Lê, Lê Phúc, Lê Đức Động. Trước đó, vào lúc 2h, lực lượng an ninh điều tra phối hợp với các lực lượng khác cũng đã bắt giữ Trần Công (tức Phan Văn Thu) cùng với lái xe kiêm vệ sĩ của Công là Lê Trọng Cư (SN 1966, trú ở xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa) khi y đang trên đường từ Bình Định trở về Khu du lịch sinh thái Đá Bia. Qua khám xét, Công an Phú Yên đã thu giữ hàng trăm tập tài liệu thể hiện nội dung cương lĩnh hoạt động của tổ chức, 19 kíp nổ, 10 bộ đàm, 1 ống nhòm, trên 12.000USD, gần 190 triệu đồng tiền Việt Nam và một số phương tiện hoạt động khác.

Tính đến ngày 12/2, Cơ quan An ninh đã bắt 14 đối tượng trong Hội đồng công luật công án Bia Sơn trong đó có: Nguyến Kỳ Lạc, Đoàn Đình Nam, Vũ Ngọc Cự, Vương Tấn Sơn, Trần Phi Dũng, Đoàn Văn Cư và Trần Quân.

Công an tỉnh Phú Yên đã ra quyết định khởi tố vụ án “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức, công dân” với các đối tượng trên. Việc điều tra, hoàn chỉnh các thủ tục tố tụng để đề nghị truy tố, xét xử theo pháp luật đang được tiếp tục triển khai.

Tùng Lâm

Trí Thức & Phản Biện

LTS: Nói rằng một người có cặp mắt sáng có thể lái xe ban đêm giỏi, nhưng không thể căn cứ vào tài lái xe ban đêm để đo lường độ sáng của cặp mắt. Cũng vậy, phản biện có thể là một trong những hành vi mà một trí thức có thể làm, nhưng không thể là một định nghĩa cho trí thức. Nhất là gặp gì cũng phản biện, phản biện số 2 thành số 7, phản biện cho màu đỏ thành màu đen,… thì nhất định không phải là phản biện. Đành rằng, một khi có được những phản biện có giá trị, điều đó sẽ làm cho xã hội tiến bộ hơn; nhưng nếu cho đó là nhiệm vụ của “trí thức”, sẽ trở thành hàm hồ. Thái độ “gom về mình”, để được mặc áo trí thức mỗi khi khi phản biện, thì lại càng không nên là hành vi của một trí thức.

Nếu cứ nhất định qui kết trách nhiệm của trí thức là phải phản biện, thì xem ra hơi động chạm đến hơn tỷ rưỡi con chiên trong giáo hội Vatican, vì như thế, có nghĩa là không có một tín đồ nào của Giáo Hội Vatican được gọi là trí thức, ngoại trừ những vĩ nhân của Phong Trào Lý Trí, biết phản biện lại Giáo Hội, như Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu,… và nhiều danh nhân khác trong các thế kỷ kế tiếp. (SH)

Gần đây, trong bài “GS Ngô Bảo Châu: Bạn trẻ vẫn đầy niềm tin tương lai” được phổ biến trên vài diễn đàn thông tin, trong đó GS Ngô Bảo Châu có nói về vấn đề “trí thức và nhiệm vụ phản biện xã hội”.  Trước câu hỏi của phóng viên Tuổi Trẻ Cuối Tuần: “Giáo sư suy nghĩ thế nào về trách nhiệm phản biện xã hội của giới trí thức cũng như vai trò của giới trí thức trong xã hội?” GS Ngô Bảo Châu nhận định như sau:

“Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”?

Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.
Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.
Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội. Học hàm, học vị không thể đảm bảo rằng cái anh nói ra là mặc nhiên đúng. Với thói quen làm việc khoa học của mình, cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn minh, có bản lĩnh sẽ biết lắng nghe những lập luận đó. Họ có thể làm theo hoặc không làm theo kết luận của anh. Trong trường hợp họ không làm theo, vẫn dưới giả thiết là lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh, lãnh đạo sẽ phải đưa ra những lập luận ít nhất cũng vững chắc bằng những lập luận của anh để bảo vệ quyết định của mình.
Tôi quan niệm vai trò của trí thức là như vậy, anh ta có vai trò gây sức ép lên người lãnh đạo, nhưng cũng như lãnh đạo, anh ta không độc quyền chân lý.

Và trước câu hỏi:

- Năm qua là năm có nhiều hoạt động phản biện của giới trí thức trong nước cũng như ngoài nước. Giáo sư đánh giá thế nào về các hoạt động này? Là một trí thức, giáo sư có muốn đóng góp tiếng nói của mình vào trào lưu chung đó?

GS Ngô Bảo Châu đã trả lời:

- Cá nhân tôi thường tránh bàn luận các vấn đề mà tôi không biết rõ. Tôi quan tâm nhiều hơn tới những lĩnh vực mà tôi có thể trực tiếp tham gia hành động thay vì chỉ nêu ý kiến. Nhưng tôi cho rằng việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ là những đóng góp lớn cho xã hội, cho đất nước của giới trí thức. Tuy nhiên, trước khi lên tiếng về một vấn đề nào đó, người trí thức hơn ai hết cần phải hết sức ý thức về ảnh hưởng của nó.

– )o( –

Giáo sư Ngô Bảo Châu là Giáo sư Toán có tầm vóc quốc tế, cho nên ý kiến của ông ta có sắc thái chính xác của toán học, nhưng một số người với đầu óc nặng về thiên kiến chính trị nên đã lên tiếng phê bình.  Do đó mới có chuyện lạ lùng: “cộng đồng mạng xôn xao vì lời phát biểu của Giáo sư Ngô Bảo Châu về vai trò phản biện của trí thức.”  Tại sao lại có chuyện xôn xao trong khi Giáo sư Ngô Bảo Châu đã nói lên rõ ràng thế nào là vai trò của trí thức trong vấn đề “phản biện xã hội”. Đọc những lời “xôn xao” (Trí thức, phản biện, và Ngô Bảo Châu) chúng ta thấy chúng phát xuất từ những suy diễn lệch lạc và cảm tính cá nhân hơn là hiểu biết.

Theo Phan Bạch Quán (PBQ) thì:

“Những ý kiến phản đối Ngô Bảo Châu cho rằng lời tuyên bố trên của ông sẽ là cái cớ khiến cho nhiều người có chuyên môn, bằng cấp, học vị càng thấy họ đúng khi giữ thái độ thờ ơ trước hiện tình nguy khốn của đất nước, nói nôm na là làm cho đám “trí thức trùm chăn” càng có cớ để trùm chăn kỹ hơn nhưng vẫn vênh mặt tự hào mình là giới trí thức.

[Đây chỉ là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite) dựa trên suy diễn và cảm tính cá nhân chứ không dựa trên một căn bản nào có thể thuyết phục người đọc.  Hiện tình nguy khốn của đất nước là nguy khốn như thế nào?  Thế nào là “trí thức trùm chăn”, không phản biện là “trùm chăn”?  Không làm loạn là trùm chăn? Không chống đảng là trùm chăn.?  Không tranh đấu cho dân chủ “made in America”, trong khi chẳng hiểu thế nào là dân chủ là trùm chăn?  Không biểu tình chống Tàu là trùm chăn? Không theo lề là “trùm chăn”?  GS Ngô Bảo Châu đã từng phát biểu: "bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do .''  TCN]

Trong những ý kiến phê bình Ngô Bảo Châu, tôi đồng ý nhất với ý kiến của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (khi trả lời phỏng vấn của BBC) nên xin được trích dẫn ra ở đây:
“Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội. Cho nên tôi nghĩ phản biện xã hội là chức năng của trí thức, chứ không phải là chức năng của ai hết.

[Phải chăng trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của trí thức chỉ là chức năng phản biện ?  TCN]

Nếu anh cặm cụi với chuyên môn của anh, để anh làm ra một loạt sản phẩm cho xã hội, thì anh mới chỉ là một người chuyên nghiệp trong một chuyên ngành nào đấy thôi, chứ không phải là trí thức, hiểu theo nghĩa là người hiểu biết và dẫn dắt xã hội. Mà hướng dẫn cộng đồng, tất nhiên là anh phản biện.”

[Phải chăng phản biện là phương sách duy nhất để dẫn dắt xã hội, hướng dẫn cộng đồng? Đây là định nghĩa của “trí ngủ”, ngủ mê trong sự hạn hẹp, chứ không phải là trí thức. TCN]

..Khi nói tới “phản biện xã hội ” thì ai ai cũng hiểu đó là “phê bình những chính sách do Đảng đề ra”, nôm na là “lên tiếng cãi lại Đảng”.

[Thật là rõ ràng, “phản biện xã hội” chỉ là để chống đáng, cãi đảng, còn trong mọi lãnh vực xã hội khác thì không cần phản biện. TCN]

Thu hẹp trí thức vào chức năng phản biện trong khi chức năng của trí thức thì đa dạng, và với sự hiểu biết của họ, với kiến thức chuyên nghiệp, họ có thể giúp ích cho xã hội nhiều hơn là lao mình vào lãnh vực phản biện, nhất là khi họ không có đủ thông tin, không có sự hiểu biết sâu rộng và chính xác về vấn đề, thì đó chỉ là một quan niệm cá nhân, là văn hóa chỉ đạo.  Vậy thì chúng ta hãy tìm hiểu một chút về trí thức và phản biện.

Thế Nào Là Trí Thức?

Trước khi nói về trí thức chúng ta cần có một định nghĩa thế nào là trí thức.  Một định nghĩa tổng quát về trí thức là người dùng sự thông minh của mình, nghĩa là một đầu óc bao gồm nhiều khả năng có liên hệ với nhau, thí dụ như khả năng lý luận, dự kiến, giải quyết vấn đề, suy tư trừu tượng, thấu hiểu các ý tưởng, dùng ngôn ngữ để phát biểu, và học hỏi v..v..  Theo định nghĩa này thì người trí thức có thể nói là người có khả năng hiểu biết đúng về một lãnh vực nào đó, không nhất thiết phải có bằng cấp cao.

Tuy nhiên, trong những định nghĩa hiện đại, người ta thường phân biệt ba loại trí thức khác nhau:

- những người để tâm trí vào những ý tưởng, sách vở, và sử dụng đầu óc;

- những người thuộc lớp có nghề nghiệp như giáo sư, luật sư, bác sĩ, kỹ sư, khoa học gia v..v..; và

- những “trí thức văn hóa” [cultural intellectuals] chuyên gia về văn hóa, nghệ thuật v..v.. có thẩm quyền trình bày lãnh vực của họ trước quần chúng.

Để cho xứng đáng được gọi là trí thức, ngoài kiến thức rộng về ngành chuyên môn của mình, người trí thức cần có hai đức tính: lương thiện và đạo đức.  Người Việt Nam thường không mấy kính trọng những kẻ “hữu tài nhưng vô hạnh”.

Vì định nghĩa của trí thức rộng như vậy, cho nên mỗi người đóng góp cho xã hội tùy theo hoàn cảnh, quan điểm cá nhân và khả năng của mình.  Điều hiển nhiên là không có một trí thức nào có thể bao quát được mọi vấn đề trong xã hội, họ chỉ có thể đóng góp cho xã hội trong lãnh vực chuyên môn của họ, đi ra ngoài lãnh vực mà họ không nắm vững thì họ trở thành một anh thợ giầy mà lại cứ muốn đi lên trên nơi giầy dép.

Trong một xã hội, nếu những nhà trí thức làm đúng nhiệm vụ của mình trong lãnh vực chuyên môn của mình và luôn luôn học hỏi thêm để trau dồi kiến thức chuyên môn, thì đó là một xã hội đáng sống trong đó rồi.  Một bác sĩ làm sao chữa tốt cho bệnh nhân và dạy cho họ biết phòng bệnh thì tốt hơn là chữa bệnh, một giáo sư làm sao dạy cho học sinh, sinh viên hiểu vấn đề và khuyến khích óc sáng tạo của con em, một kỹ sư nghĩ ra một kỹ thuật mới v…v…, đó chính là nhiệm vụ hướng dẫn và dẫn dắt xã hội. Chuyện chính trị để cho các chính trị gia lo, chuyện luật pháp để cho các luật sư lo, chuyện xã hội để cho các nhà xã hội học lo v…v…., và những người này có thể có những đề nghị hay phản biện để cải tiến xã hội. Ngoài lãnh vực chuyên môn của mình, nếu mình quan tâm đến và có hiểu biết về một vấn đề xã hội nào đó, thì mình có thể tham gia giúp ích cho xã hội theo khản năng của mình, có thể là giúp ý kiến, có thể là phê bình, có thể là phản biện v…v…Nhưng không thể có một khuôn mẫu chung cho trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của trí thức.

Do đó, những người đặt vấn đề là trí thức nói chung phải có trách nhiệm phản biện, phải hướng dẫn cộng đồng, phản biện xã hội là chức năng của trí thức v…v… là không hiểu rõ thế nào là một trí thức, không đánh giá đúng vai trò của trí thức, vì họ chỉ sống và hiểu trong khung cảnh trí thức hạn hẹp của chính mình.

Người trí thức mà viết, hoặc hành động theo lề, theo những khuôn mẫu thời thượng của những gì người khác muốn và ra ngoài lãnh vực chuyên môn hay sự hiểu biết của mình về vấn đề thì không còn là trí thức nữa.  Do đó, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã nói rất đúng: Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Vì  mọi tầng lớp dân chúng có hiểu biết đều có thể phản biện, phản biện không phải là chức năng riêng và duy nhất của trí thức.

Thế Nào Là “Phản Biện”?

Sau khi biết thế nào là “trí thức”, chúng ta cũng cần biết thế nào là “phản biện”. Phản biện là dùng lý lẽ, biện luận với thông tin, tài liệu, bằng chứng, để phản bác, chứng minh một vấn đề nào đó, có thể là một luận cứ văn học, một quan điểm về khoa học, một nhận định xã hội, một luận cứ trong Tòa án v..v.. là không đúng, là sai lầm cho nên cần phải bác bỏ. Phản biện có một mục đích rõ ràng là bác bỏ, bác bỏ vì không đúng, vì sai lầm.   Chống đối, không đồng ý, hay góp ý kiến thì không phải là phản biện.  Cho nên GS Ngô Bảo Châu có đưa ra nguyên tắc phản biện:

Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội. Học hàm, học vị không thể đảm bảo rằng cái anh nói ra là mặc nhiên đúng. ..cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục.

Làm sao có thể đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục.  Chỉ có thể như vậy nếu nắm vững vấn đề muốn phản biện và có đủ lý luận để bác bỏ.  Đây không phải là điều trí thức nào cũng làm được, nhất là về lãnh vực chính trị, đối ngoại hay đường hướng quốc gia, những lãnh vực mà nhà nước tất nhiên có cái nhìn bao quát, tổng hợp, và đầy đủ thông tin hơn cá nhân.  Trong những lãnh vực như trên, người trí thức chỉ có thể lên tiếng phê bình phân tích và đưa ra những đề nghị xây dựng theo sự hiểu biết của mình, chứ không thể phản biện để bác bỏ.  Có nghe theo hay không là thuộc về chính quyền và chính quyền sẽ phải chịu trách nhiệm trước quốc dân về những quyết định của mình.

Tôi xin lấy một thí dụ.  Nước Mỹ là nước được cho là dân chủ nhất thế giới, dù chính sách đối ngoại của Mỹ không có gì là dân chủ.  Trong chế độ dân chủ của Mỹ, người dân có quyền bỏ phiếu để chọn lựa nguyên thủ quốc gia, tuy nhiều khi phiếu của người dân (popular vote), dù là đa số, cũng không có giá trị  bằng phiếu của các vị đại diện cho họ (electoral vote). Năm 2000, trong cuộc bầu cử Tổng Thống, Al Gore được nhiều phiếu của dân chúng hơn, những Bush vẫn thắng vì được nhiều phiếu của các dân cử.  Đây không hẳn là dân chủ theo nghĩa “thiểu số phục tùng đa số”. Nhiều trí thức Mỹ cũng đã lên tiếng phê bình vấn nạn này.  Chính quyền Bush tạo ra những thông tin ngụy tạo về Iraq để có cớ xâm lăng Iraq, người dân cũng chỉ có thể phản đối hay biểu tình chống chiến tranh, nhưng không thể phản biện.  Và chiến tranh Iraq đã tốn mấy ngàn nhân mạng lính Mỹ, vài trăm tỷ đô-la, vài trăm ngàn người Iraq, cuối cùng thì Mỹ cũng rút quân để lại không biết bao nhiêu là hệ lụy cho Iraq.

Lượm lặt trên Internet những lời “xôn xao” tôi thấy có vài nhận định nghiêm chỉnh như sau:

☞ nguoivehuu:   Đọc kỹ, Ngô Bảo Châu không hề nói sai điều gì. Và, trên hết, tại sao người ta cứ tìm cách định nghĩa lại “trí thức”- một danh từ, làm gì? Trí thức là người có học, được học về một vài ngành nào đó, thế thôi. Giới ấy (trí thức) cũng có từ thượng vàng tới hạ cám (từ lưu manh tới danh giá) như bao giới (công, thương, nông) khác.
“Lao động trí óc”, nếu cần để gọi việc làm của họ – giới trí thức- là thế, và “sảm phẩm” của quá trình lao động ấy là các công trình ở mọi ngành khoa học, trong ấy sẽ có cả khoa học xã hội. Những thành quả ấy có khi là những phát minh mới hay những công trình phản biện, mà ngay cả phát minh cũng đã có tính phản biện, nó phản biện những cái cũ, cái chưa đúng, cái không còn đúng … Vậy thì tay NBC mong trí thức có những công trình nghiêm túc, chất lượng chả có gì đáng phàn nàn và đem mổ sẻ luận chữ kiểu CCRĐ mà dư luận đang rộ lên đấu tố anh ta cả. Nói như anh ta bao trùm hơn, chứ không cần chăm bẳm vô mỗi cái phản biện xã hội mà mọi người làm như phải nói tới cụm từ ấy mới là “dấn thân” hay gì gì nữa … Khiếp thật.

☞ Felix Nguyen: Từ lâu tôi đã có quan điểm nhất quán là người có sở học và đóng góp những thành tựu trong lĩnh vực chuyên môn của mình bất kể tính đạo đức của ông ta. Về quan điểm này tôi cảm thấy tôi rất gần với quan điểm về trí thức của Gs Ngô Bảo Châu. Thế nhưng đây chỉ là vấn đề về gọi tên. Nghĩa là nếu ai có đóng góp thành tựu trí tuệ của mình thì đều được gọi là trí thức dù ông (bà) ta có phản biện hay không.

Còn lại phần lớn là những suy diễn hạn hẹp cá nhân, thiếu hiểu biết, lạc đề, và không tránh được những luận điệu chụp mũ và chống Cộng. Đây không phải là những lời “xôn xao” trí thức mà chỉ là những luận điệu phát xuất từ tâm cảnh chống Cộng, hay nói đúng hơn chống tất cả những gì mà họ cho là có liên hệ tới, hay làm lợi cho CS.  Những lời “xôn xao” như vậy thì người trí thức không cần phải quan tâm, và tôi tin rằng Giáo sư Ngô Bảo Châu chẳng bao giờ quan tâm.

Sau đây là vài trích dẫn điển hình với vài lời ghi bên cạnh của tôi:

▶ PBQ:  Trong quá khứ Ngô Bảo Châu cũng đã hai lần tham gia “cãi Đảng”, một là vụ khai thác bô xít Tây Nguyên, hai là vụ kết án Luật sư Cù Huy Hà Vũ. Chính vì thế câu trả lời của ông lần này khiến nhiều người bị sốc, sốc đến mức có người còn cho rằng Ngô Bảo Châu “đổi chiều” chỉ vì ông đã được dúi cho căn nhà trị giá 2 tỷ (VN), và mới đây, được hứa cho ngân sách 600 tỷ để hoạt động Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán mà Gs Ngô Bảo Châu làm giám đốc.

[Ngô Bảo Châu đã  từng là giáo sư đại học Paris-6 11, đại học Princeton, và hiện nay là giáo sư đại học Chicago.  Không phải ai cũng có được một danh vị như vậy. Ông ta về làm việc ở Việt Nam trong một thời gian ngắn để giúp Việt Nam thành lập Viện Nghiên cứu cao cấp về toán làm nền tảng nghiên cứu khoa học cho Việt Nam vì toán có liên hệ tới nhiều bộ môn khoa học khác,  đặc biệt là kỹ thuật, chứ không phải vì một căn nhà trị giá 2 tỷ đồng Việt Nam hay một quỹ phát triển 600 tỷ đồng Việt Nam. Quỹ phát triển là để phát triển, với sự tham gia của rất nhiều người và với nhiều chương trình, có cơ quan phụ trách duyệt, kiểm soát v…v… không phải để cho Giáo sư Châu bỏ túi tiêu một mình. Tôi không biết nhà của Giáo sư Châu ở Mỹ trị giá bao nhiêu, nhưng nếu có chắc chắn không phải là một ngôi nhà trị giá 2 tỷ đồng Việt Nam, nghĩa là khoảng 100000 đô-la, trừ khi ông ta thuộc lớp người ABC, không có nhà đi ở thuê.  TCN]

▶ PBQ:  Một điểm nữa làm cư dân mạng sôi sục là vì cái giọng kẻ cả của ông giáo sư toán như trong câu: “Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội”, hay: “Cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục”. Ngô Bảo Châu đang muốn khuyên răn ai đây? Từ trước tới giờ người ta thấy chỉ có Đảng mới là không tỉnh táo và không bao giờ đưa ra được những lập luận nào vững chắc hay có tính thuyết phục cả.

[Đây không phải là để khuyên răn bất cứ ai.  Đây chỉ là nhận định, qua sự hiểu biết của mình, về vấn đề phản biện. Đó là điều kiện cần và đủ để cho một phản biện có giá trị và có kết quả. Ở đây, Đảng có liên quan gì đến nhận định của Giáo sư Châu.  Muốn chống Cộng, hãy đi chỗ khác, đây không phải chỗ. TCN]

▶ PBQ:  Nhiều chuyên gia đã dám công khai chống lại đường lối sai lầm của Đảng, một số đã bị bắt, trong đó có Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Quốc Hiền, Phạm Minh Hoàng, v.v…

[Có gì liên quan đến nhận định của Giáo sư Châu về trí thức và phản biện?  Đi chỗ khác mà tranh đấu cho “dân chủ”. TCN]

▶ PBQ:   Khi đất nước còn đang trong cơn hỗn loạn, dân tộc tan tác và giặc ngoài đe dọa thì làm sao một người may mắn được học hành hơn người có thể ngồi yên và chỉ biết cặm cụi với chuyên môn.

[Nước nhà đang hỗn loạn vì cảnh kẹt xe (!); dân tộc tan tác trên các chuyến du lịch (!) khắp nơi, trong các tiệm ăn, trong các trung tâm du hí v…v…; giặc ngoài (ở đâu, ở trong nước, ở Mỹ, Úc hay ở Ải Nam Quan?); Aux armes !! Trí Thức ! Đừng có ngồi yên.  Hãy xuống đường giải thể CS, hay vác búa, kìm và xà beng lên Ải Nam Quan và ra Biển Đông thắp nến cầu nguyện chống Tàu.  TCN)

 Sông Saigon

Ảnh 1: kẹt xe - Ảnh 2: Sông Saigon, một trong những nơi du lịch hấp dẫn

Khán giả cuồng nhiệt ủng hộ ban nhạc BlueXmas đêm 24/12/2011

Ảnh 3: Khán giả cuồng nhiệt ủng hộ ban nhạc trình diễn đêm 24/12/2011

▶  Trường hợp ông Đoàn Văn Vươn… (Lạc đề, irrelevant)

▶  Các nhà khoa học được coi là Trí thức hay không phải xét xem họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội như thế nào, xưa nay đều thế cả.

Các nhà khoa học nào và họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội như thế nào.  Ai có đủ trình độ và tư cách để đánh giá một khoa học gia là trí thức hay không.  Phải chăng tiêu chuẩn của trí thức phải là dấn thân trong cộng đồng và xã hội nhiều khi chỉ là theo lề hoặc theo mốt thời thượng về dân chủ.  Tôi nghĩ đến Galileo Galilei, Charles Darwin, Einstein, Stephen Hawkings, Carl Sagan và cả trăm trí thức nổi danh khác, không hiểu họ nổi danh và được cả thế giới kính phục vì những kết quả nghiên cứu của họ hay là vì họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội.  TCN]

1: 2: 3: 4:

1. Charles Darwin 2. Einstein 3. Stephen Hawkings 4. Carl Sagan

▶ PBQ: Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bỉu và chỉ điểm những trí thức chân chính.

[Lại là một khẳng định vô trách nhiệm dựa trên suy diễn và cảm tính cá nhân.  TCN].

▶ – Việc nhà nước Việt Nam vinh danh Giáo sư Châu là “động thái chính trị hơn là một hành động thể chế hóa chính sách trọng dụng trí thức.

[Giải thưởng Fields năm 2010 và gần đây, huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp do Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy gắn tặng đã vinh danh GS Châu, và mấy trường đại học lớn nổi tiếng ở Pháp và Mỹ đều trọng dụng Ngô Bảo Châu.  TCN]

– o0o –

Trên đây là vài lời “xôn xao” về những ý kiến của Giáo sư Ngô Bảo Châu về trí thức và phản biện.  Đọc những lý luận và nhận định của họ chúng ta thấy rõ là họ rất thiếu hiểu biết, không nắm vững vấn đề, suy diễn sự việc theo cảm tính cá nhân và khuynh hướng chính trị tiêu cực đối với Việt Nam.  Họ không đưa ra bất cứ một lý luận nào để phân tích những lời phát biểu của Giáo sư Châu là đúng hay sai, và nếu sai thì sai ở chỗ nào.  Tất cả chỉ là phê bình chỉ trích dựa trên cảm tính cá nhân và suy diễn lệch lạc, ngoài đề.

Tôi có cảm tưởng là đối với họ, phản biện có nghĩa là phải chống đảng, cãi đảng, bất kể đó là vấn đề gì của đảng, đúng hay sai.  Họ không cần để ý là số trí thức mà họ gọi là “nằm vùng” về giúp nước càng ngày càng nhiều và phần lớn là những bậc khoa bảng có danh vị ở ngoại quốc.

Trong khi đó thì đám người chống Cộng và chống luôn cả nước Việt Nam thì ở hải ngoại, không kể những con chiên nghiện đạo trong tập đoàn Ca-tô như Nguyễn Gia Kiểng, Lữ Giang, Chu Tất Tiến, Nguyễn Văn Lục v..v…, quanh đi quẩn lại chỉ có những người như Ngô Kỷ, Lý Tống, vài anh HO và vài văn sĩ quèn, còn ở trong nước thì không ngoài Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân…, những nhân vật nổi tiếng nhưng không phải là những khuôn mẫu trí thức để cho những người hiểu biết noi theo.

Ngày nay mà họ vẫn còn chống Cộng bằng những luận điệu lố bịch nhất hành tinh như: Việt Nam là nước nghèo khổ nhất, Việt Cộng tàn ác sát hại nhân lành, Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, không bao giờ về VN khi còn Việt Cộng, Việt Nam không có tự do tôn giáo, cộng với chiến thuật “mách bu” qua những thỉnh nguyện thư lên Tổng Thống, ngoại trưởng, dân biểu Mỹ, quốc hội Âu Châu  v…v…  Chẳng trách là đã 36 năm qua, họ chẳng đạt được một kết quả khả quan nào.

Ai bảo chống Cộng là dễ? Không ! Chống Cộng khó lắm chứ.

Giáo sư Trần Chung Ngọc

Cảnh giác với thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen lịch sử

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào những năm cuối thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội coi đây là “thời cơ vàng” để đẩy tới chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tấn công toàn diện vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam với tham vọng loại bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực khỏi đời sống chính trị thế giới như cựu Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn từng tuyên bố: “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh“.

Trong cuộc chiến mới, kẻ thù sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mới tiến công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để làm chuyển hóa chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tư bản chủ nghĩa, thực hiện phương châm “không đánh mà thắng”. Trong chiến lược tổng hợp đó, kẻ thù đặc biệt chú trọng tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa nhằm làm thay đổi nhận thức, tình cảm, phá hoại niềm tin, lý tưởng cách mạng, suy đồi đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân với kỳ vọng biến “diễn biến hòa bình” thành “tự diễn biến”, kích động tư tưởng chống đối từ trong nội bộ, thủ tiêu thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách “hòa bình”. Do vậy, một trọng tâm của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay là nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn địch chống phá, kiên quyết đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền phản động, xuyên tạc, bôi đen lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, dân tộc góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc.

Lâu nay, các thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam luôn triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, tuyên truyền để gieo rắc các quan điểm, tư tưởng tư sản, phản động, xuyên tạc, bôi đen lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Chúng cố tình rêu rao rằng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta ưa dùng bạo lực, say máu chiến tranh nên đã đưa cả dân tộc vào con đường “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”… Bằng thủ đoạn thâm độc này, kẻ thù đã làm cho không ít người, nhất là các thế hệ trẻ mơ hồ, hoài nghi, giảm sút niềm tin vào Đảng, Bác Hồ. Do vậy, công tác tư tưởng của Đảng cần làm cho mọi người dân hiểu rõ truyền thống lịch sử dân tộc, thực tiễn cách mạng gần 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đấu tranh giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những năm trước 1930, khi chưa có Đảng, đất nước rên xiết dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, biết bao cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước, đấu tranh đòi lại độc lập cho dân tộc đã nổ ra nhưng đều thất bại, bị kẻ thù đàn áp dã man dìm trong biển máu do không có đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo. Từ năm 1930 đến nay, có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo, giáo dục, tổ chức, cách mạng Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng đường lối chính trị, nhân dân ta kiên quyết đứng lên đấu tranh làm thay đổi địa vị của cả dân tộc, từ người nô lệ thành người tự do làm chủ vận mệnh của mình. Tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh gắn liền với bước ngoặt cách mạng vĩ đại đó của dân tộc.

Hồ Chí Minh là Nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Cách mạng Tháng mười Nga để tìm ra con đường đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của ngày hôm nay. Người nhận rõ chân lý thời đại: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản“; bởi vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Trong đấu tranh cách mạng, việc xác định hình thức, phương pháp đấu tranh không thể chủ quan, tùy tiện, mà phải căn cứ vào bản chất, phương thức hoạt động của kẻ thù. Trong Bài giảng về “Đường cách mệnh” (năm 1925), Người đã chỉ rõ rằng, tự bản thân chủ nghĩa thực dân đã là một hành động bạo lực, vì vậy cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành thắng lợi bằng con đường cách mạng bạo lực để chống lại bạo lực phản cách mạng của thực dân xâm lược Pháp.

Có đường lối đúng, tổ chức chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường oanh liệt và thắng lợi vẻ vang: 15 năm sau khi Đảng ra đời, Cách mạng Tháng tám (năm 1945) đã nổ ra và giành thắng lợi, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp gần một trăm năm, ách thống trị của chế độ phong kiến gần một nghìn năm, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành thắng lợi trọn vẹn giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 30 năm qua, đặc biệt sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động cách mạng, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đất nước chồng chất khó khăn, những thành tựu đạt được của sự nghiệp đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay và cả mai sau. Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nêu tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, tinh thần tận tụy, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị… Người là hiện thân của những phẩm chất cao quý nhất của con người Việt Nam: Yêu nước, thương dân, thông minh, cần cù, sáng tạo, anh hùng, vì nghĩa lớn… Người đã hiến dâng cho tất cả chỉ quên mình. Khẳng định công lao, đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”. Vậy mà, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, kẻ địch đã không từ bỏ một thủ đoạn tuyên truyền phản động nào. Chúng tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhằm phủ nhận cơ sở lý luận của Đảng; rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc không chịu ảnh hưởng gì của chủ nghĩa Mác – Lê-nin có tính quốc tế. Đặc biệt, kẻ thù mở chiến dịch phản tuyên truyền vu khống để “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” bằng những thủ đoạn hèn hạ nhất, như dựng chuyện đời tư để bôi nhọ Người; phát tán nhiều tài liệu tuyên truyền phản động, bằng nhiều phương tiện khác nhau như: sách, báo, đài truyền thanh, truyền hình, Internet, rỉ tai truyền miệng, tranh ảnh… làm cho không ít người nhẹ dạ cả tin, hoài nghi về Lãnh tụ kính yêu của mình, nhân dân phân tâm, mất niềm tin vào Đảng do Người thành lập. Chúng ra sức xuyên tạc ý nghĩa của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trắng trợn bôi nhọ các lãnh tụ của Đảng, Nhà nước ta.

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện gắn xây dựng với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Do vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong cả nước và trong quân đội. Trước hết, cần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, lịch sử truyền thống yêu nước và cách mạng, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao niềm tin vững chắc của nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước; nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động phá hoại của kẻ địch với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chủ động phòng ngừa không để cho nó phát sinh, phát triển gây tác động xấu trong xã hội, quân đội. Thứ hai, trang bị cho mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân khả năng “tự bảo vệ” chống sự xâm nhập phá hoại của các tư tưởng xấu độc làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lập trường, quan điểm tư tưởng theo hướng tư bản chủ nghĩa. Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, xây dựng thế trận phòng, chống các hoạt động phá hoại của địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, hình thành mạng lưới tiến công các tư tưởng thù địch đang lan truyền trong xã hội; bảo đảm định hướng tư tưởng chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng góp phần xây dựng con người mới, nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tạo ra những tiền đề thuận lợi cho xây dựng con người mới; kết hợp đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống để quần chúng học tập, làm theo, chủ động phòng, chống sự xâm nhập của các quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống tư sản, phản giá trị văn hóa và phát sinh các tiêu cực nội bộ.

Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ PHẠM VĂN NHUẬN

Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng

Hòa hợp dân tộc: Không thể chờ nước chảy đá mòn

Liệu pháp thời gian là cần thiết song không thể mặc định như chuyện nước chảy đá mòn. Hòa hợp dân tộc cần sự chủ động từ trong nước hơn nữa – nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói về vấn đề hòa hợp dân tộc.

Dưới thời kỳ ông Nguyễn Dy Niên làm Bộ trưởng Ngoại giao – cơ quan tham vấn trực tiếp cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước về chính sách kiều bào, một nghị quyết quan trọng đã ra đời – Nghị quyết 36 về kiều bào (năm 2004).

“Nghị quyết 36 mang tinh thần cốt lõi là hòa hợp dân tộc và đoàn kết dân tộc” - ông nói trong cuộc trò chuyện với VietNamNet đầu năm. Điều này được Nghị quyết khẳng định rõ “xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp” để “tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”.

Với gần 10 năm công tác trực tiếp về vấn đề kiều bào (từ 1991-2000 trong vai trò Chủ nhiệm UB về người Việt Nam ở nước ngoài), ông Niên khẳng định nhờ có Nghị quyết này, trong gần 10 năm qua, đã có không ít những nút thắt được mở.

Với Nghị quyết 36, không ít nút thắt được mở trong vấn đề kiều bào. Ảnh: Hoàng Ngọc

Điểm nhấn gần đây nhất là Luật Quốc tịch năm 2008 đã tạo điều kiện cho phép công dân Việt Nam có thể mang hai quốc tịch,  Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất đai cho phép mở rộng đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, miễn thị thực cho kiều bào cư trú trong nước 3 tháng, bước đầu xây dựng chính sách, biện pháp thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào trở về đóng góp cho đất nước…

Điểm lõi của Nghị quyết 36 là hòa hợp dân tộc – theo nguyên Bộ trưởng Ngoại giao – dù đã có những bước đi mạnh dạn song vẫn chưa thực sự trọn vẹn.

Quyết liệt hơn 

37 năm sau chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước, chúng ta nêu vấn đề này vào thời điểm hiện nay mà vẫn chất chứa những điều chưa trọn vẹn. Vì sao, thưa ông?

Vấn đề hòa hợp dân tộc ai cũng thấy là đúng cả. Ai cũng thấy cần phải làm nhưng làm như thế nào thực sự không dễ dàng. Khi thống nhất đất nước, đất nước bộn bề công việc, có biết bao nhiêu vấn đề đặt ra. Lúc đó đất nước đứng trước khó khăn về tái thiết. Vấn đề hòa giải sau chiến tranh đòi hỏi quá trình, nôn nóng cũng không được.

Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên tại hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài năm 2010.Ảnh: Phương Thuận

Bối cảnh Nghị quyết 36 ra đời cách đây gần 10 năm, tôi nghĩ đó là thời điểm mà khi đất nước mang diện mạo mới bắt đầu định hình sau tái thiết, Trung ương đã thấy cần phải đưa ra những quyết định mạnh mẽ cho vấn đề này như một sự bức thiết. Dù khi làm công tác kiều bào thời điểm những năm thập niên 1990, khi đi đến các địa phương, tôi cảm nhận vấn đề này thực sự khó khăn. Chiến tranh ác liệt qua đi, có những vết thương vẫn còn đó, để nói chuyện ngồi lại với nhau, tha thứ là điều thực sự khó khăn. Ngay cả thời điểm bây giờ cũng vậy, không phải vết thương nào cũng lành, cũng vơi bớt. Tâm lý con người là vậy, khó có thể nói nhận thức ý chí lắm. Bởi lẽ đó, yếu tố thời gian là quan trọng.

Thực tiễn đổi mới hơn 20 năm qua đã đưa diện mạo đất nước bước sang một trang mới, và hiện thực đi quá nhanh, bối cảnh thế giới cũng đã khác, có nhiều thay đổi. Liệu những lấn cấn, chưa trọn vẹn có làm cho mọi việc sẽ lại chậm đi không, trong khi nguồn lực đất nước đang khát, từ tri thức đến khoa học công nghệ, nhân lực?

Nhận định thời gian để chúng ta có một Nghị quyết 36 như thế hơi dài cũng bởi tại chính thời gian là một liệu pháp để làm lành vết thương, dần lấp những nỗi đau, khoảng trống. Cốt lõi của Nghị quyết 36 là hòa hợp dân tộc và đoàn kết dân tộc. Nhưng muốn làm thì các mặt triển khai như thế nào? Điều này đòi hỏi không chỉ một cơ quan nhà nước như UB về người Việt Nam ở nước ngoài mà cả các cấp, các ngành, địa phương. Có thể nói cả hệ thống chính trị phải sẵn sàng  và cùng tham gia mới thực hiện được. Đó là những điều đã tính tới khi Nghị quyết 36 ra đời.

Gần tròn 10 năm thực hiện Nghị quyết, nhìn lại, không thể phủ nhận đã có những bước rất tốt nhưng đoạn đường còn phải đi tiếp vẫn dài lắm. Nhưng sau 10 năm thì thực tiễn cũng cho thấy cần những đổi mới, bổ sung trong triển khai trên thực tế, có những điều phải sửa, phải chấn chỉnh và quyết liệt hơn.

3 điểm cốt lõi

Đó là những gì, thưa ông?

Có 3 lĩnh vực. Về kinh tế, năm 2011, kiều hối được ghi nhận là 9 tỷ USD, tất nhiên có đóng góp của mấy trăm nghìn lao động gửi về nhưng phần lớn của kiều bào. Cái này nói lên Việt Nam là điểm thu hút được đầu tư vì kinh tế thế giới khó khăn, họ thấy ở Việt Nam làm ăn tốt hơn. Bây giờ phải tận dụng, nhân cơ hội này phải thoáng hơn nữa cho kiều bào đầu tư về, chủ yếu là các lĩnh vực sản xuất. Đầu tư thì phải có lãi, đầu tư không có lãi thì ai đầu tư, thế thì phải tạo điều kiện thông thoáng về kinh tế. Các cơ quan chức năng kinh tế phải làm kỹ hơn.

Kiều bào dự hội nghị người Việt trên toàn thế giới, Hà Nội 2009. Ảnh: Lê Anh Dũng

Lĩnh vực thứ hai rất quan trọng là làm thế nào cho trí thức kiều bào về trong nước, họ tham gia công việc giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi với các nhà khoa học trong nước. Hiện nay đã làm được một vài việc được nhưng phần lớn những nhà trí thức chưa thật hiểu nhau lắm đâu. Sức mạnh của kiều bào, theo tôi, đó là chất xám. Với môi trường khoa học, văn hóa thuận lợi, nhiều người gốc Việt đã học tập và rất thành đạt.

Làm thế nào để kéo họ về? Nhất là trong bối cảnh giáo dục của chúng ta có nhiều vấn đề, làm thế nào thu hút được trí thức Việt kiều về để họ chia sẻ kinh nghiệm. Chúng ta làm còn ít, còn dè dặt. Dù ngay việc đưa một giáo sư Việt kiều về tham gia các công trình trong nước cũng khó khăn lắm, rất vất vả, công phu. Tôi nghĩ muốn đẩy hơn nữa, cơ quan chức năng phải tích cực hơn, đầu tư hơn.

Lĩnh vực thứ ba là giữ gìn bản sắc văn hóa của người Việt. Bây giờ thế hệ thứ hai, sắp tới là thế hệ thứ ba, thứ tư… làm thế nào họ giữ được văn hóa Việt? Cái này khó lắm, vì họ sống giữa biển cả mênh mông của văn hóa nước sở tại thì làm sao chốt lại được nét văn hóa Việt Nam.

Một vấn đề quan trọng là làm thế nào giữ được ngôn ngữ, văn hóa Việt. Mười năm qua, chúng ta in sách giáo khoa rồi gửi ra nước ngoài, một số nước như Lào, Campuchia chúng ta gửi giáo viên sang nhưng cũng vất vả, không dễ thành công. Chưa nói bên Mỹ, Pháp, các nước khác, bây giờ thế hệ thứ ba nói tiếng địa phương, nói tiếng Anh, Pháp, ít biết tiếng Việt.

Tổ chức trại hè vừa rồi các cháu về nước nhưng cũng hiểu tiếng Việt ít lắm. Nhưng khó không có nghĩa không làm được, mà phải làm được. Kinh nghiệm của cộng đồng người Nhật ở Brazil, người Hoa ở hầu như các nơi trên thế giới cho thấy họ vẫn giữ được ngôn ngữ gốc. Thế mạnh của họ là cộng đồng lớn. Mình ngoại trừ ở Mỹ, Pháp, Australia, một vài nơi thì quy mô cộng đồng tương đối, còn ở những nơi khác cộng đồng nhỏ, phân tán. Trong khi họ phải sống hòa nhập nước sở tại nên sẽ khó khăn giữ gìn bản sắc, ngôn ngữ. Dù ít hay nhiều, cần làm thế nào để họ vẫn giữ cái cốt cách của người Việt. Ví dụ ngày Tết thì nhớ đến ông bà, giao thừa…

Bản lề còn rộng

Trở lại vấn đề hòa hợp dân tộc – điểm cốt lõi của Nghị quyết 36, theo ông, làm thế nào để hiện thực hóa trọn vẹn khi mà thời gian cũng đã đủ dài?

Cái quan trọng nhất là làm thế nào để sự phân biệt giảm đi và người trong nước phải gần gũi hơn, chìa bàn tay ra để kéo lại. Như chuyện anh muốn vỗ tay thì phải vỗ bằng hai tay, chứ không thể một tay. Nó phải từ hai phía. Hai phía phải tìm cách để cùng gặp nhau. Cần thúc đẩy, làm mạnh hơn như tạo điều kiện cho kiều bào đầu tư rộng rãi hơn.

“Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tiếp theo việc cho phép những quan chức, sỹ quan cấp cao chế độ Sài Gòn cũ được về nước, dân sự hóa nghĩa trang Bình An (tỉnh Bình Dương)… ta đã tạo điều kiện giúp tìm kiếm, cải táng hài cốt những người thân diện HO chết trong thời gian học tập, cải tạo.

Bên cạnh đó, thúc đẩy việc thành lập các tổ chức của người Việt Nam ở Mỹ, Canada, Australia, hợp nhất tổ chức thành Tổng hội hoặc Hội người Việt Nam ở địa bàn có điều kiện…, hỗ trợ sự liên kết giữa các Hội người Việt Nam, các tổ chức doanh nhân kiều bào ở các nước để tạo sức mạnh tập hợp đoàn kết kiều bào…

Ngoài ra sẽ cử các đoàn công tác liên ngành đến các địa bàn có đông kiều bào để chủ động trực tiếp đối thoại với các tổ chức và cá nhân còn mặc cảm, định kiến với đất nước…”.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm UB về người Việt Nam ở nước ngoài

Xuân Linh

vietnamnet.vn

Thực hư tin đồn bắt cóc trẻ em ở Gia Lai

Hơn một tháng qua, không chỉ phố núi Pleiku mà ở hầu hết các huyện trong tỉnh Gia Lai rộ lên tin đồn rùng rợn: Có một nhóm người chuyên đi bắt cóc trẻ em rồi mổ bụng lấy nội tạng bán ra nước ngoài. Một đồn mười, mười đồn trăm, cứ thế nhân lên và lan rộng ra nhiều buôn làng khiến nhân dân hết sức hoang mang.

Tin đồn đã khiến nhiều gia đình phải cho con nghỉ học, lên rẫy cùng cha mẹ hoặc cha mẹ nghỉ làm ở nhà trông con. Cũng từ tin đồn này đã xảy ra sự việc đáng tiếc…

Suýt xảy ra án mạng vì bắt nhầm… thợ điện

Trước Tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012, chúng tôi nhận được điện thoại của anh Bùi Minh Trọng (sinh năm 1980, trú tại thôn 3, xã An Phú, TP.Pleiku), nói trong hoang mang: “Vợ chồng em đang đi làm ở Bình Dương, có hai con nhỏ ở nhà gửi ngoại trông nom. Vừa rồi em nghe thông tin có một nhóm người bắt cóc hai bé gái đem vào công viên Diên Hồng, mổ bụng lấy nội tạng rồi thả xác hai em xuống hồ. Vợ chồng em lo lắng quá muốn bỏ công việc ngay để về trông hai con nhỏ cho chắc ăn, nhờ PV xác minh giùm thông tin đó đúng hay sai?”.

Sau khi nhận được thông tin của anh Trọng, chúng tôi đã tìm hiểu xác minh từ Ban quản lý Công viên Diên Hồng (phường Diên Hồng, TP.Pleiku) và lãnh đạo Công an phường Diên Hồng. Tuy nhiên, đó chỉ là tin đồn thất thiệt.

Thực hư tin đồn bắt cóc trẻ em ở Gia Lai, Tin tức trong ngày, bat coc tre em, mo bung lay noi tang, gia lai, tin don, tho dien, bao, tin tuc, tin hot, tin hay

Chị H’Luih ngạc nhiên vì tin đồn con chị bị bắt cóc nhưng không thành

Những ngày giữa tháng 1-2012, tại xã Chư A, TP.Pleiku xuất hiện tin đồn: Có 3 người đàn ông đi trên 3 chiếc xe máy, bịt mặt và dùng bình xịt hơi cay xông vào nhà chị H’Luih (ở làng Do, xã Chư Á, TP.Pleiku) đánh đuổi, khống chế định bắt cóc đứa bé con chị H’Luih nhưng không thành. Chúng tôi đã gặp trực tiếp chị H’Luih tại nhà và hỏi chuyện dư luận đang đồn thổi về sự việc trên, chị H’Luih tỏ ra ngạc nhiên. Chị kể lại: Hôm đó là ngày 11-1-2012, khoảng 18h30’, khi chị đang địu con trên lưng dọn dẹp vệ sinh chuồng heo thì thấy ba người đàn ông đi vào sau vườn cà phê. Nghi là bọn trộm, chị liền hô hoán dân làng thì bọn chúng bỏ chạy. Chuyện chỉ có thế nên chị H’Luih rất bất ngờ và thắc mắc, không hiểu sao lại có tin đồn kỳ lạ vậy?

Đến tối 14-1-2012, khi anh Lê Văn Minh (SN 1983), công nhân nghành điện lực đến làng C, xã Gào, TP.Pleiku kiểm tra lưới điện đã bị một số người dân tộc thiểu số đánh đuổi vì cho rằng anh Minh định bắt cóc trẻ em. Rất may cho anh Minh đã nhanh chân chạy trốn vào UBND xã và được lực lượng công an xã can thiệp.

Tại khu vực sườn núi làng Băng, xã Ia Băng, huyện Chư Prông, vào khoảng 15h30’, có nhóm trẻ chăn bò đang vui ríu rít bỗng dưng im bặt. Chúng xúm lại rỉ tai nhau nói nhỏ khi nhìn thấy một nhóm công nhân mặc quần áo ngành điện lực xuất hiện gần đó. Do thời gian vừa qua chúng được nghe người lớn dặn dò phải cẩn thận kẻo bị người xấu bắt cóc, mổ bụng lấy nội tạng, nên dè chừng khi thấy người lạ. Khổ nỗi, trong lúc khảo sát để mắc đường điện tại đây, nhóm công nhân có sử dụng máy bộ đàm để liên lạc với nhau và giờ tay chỉ trỏ, bọn trẻ thấy chỉ tay về phía mình nên hoảng sợ, chạy tán loạn về làng.

Tin của nhóm trẻ lập tức được truyền tai người lớn và lực lượng công an xã. Nhận tin, công an xã đã cử 4 công an viên ra hiện trường thì phát hiện 1 chiếc xe U-oát BKS 79D – 7891 cùng 4 người mặc áo ngành điện lực. Sau khi mời về xác minh, được biết, họ là công nhân của đoàn khảo sát đường dây 500kv thuộc công ty cổ phần tư vấn điện số 4, trụ sở tại Khánh Hòa. Dù được thông báo đó chỉ là nhầm lẫn, nhưng với người dân bản địa, họ vẫn tin rằng trẻ con “nói đúng” nên khoảng 17h cùng ngày, hàng trăm người dân sống gần đó đã kéo nhau tới trụ sở UBND xã hô hào, trong đó khoảng 50 người dùng gậy, mũ bảo hiểm xông vào phòng UBND xã, nơi 4 thợ điện đang ngồi đòi đánh. Thấy sự việc trở nên nghiêm trọng, công an xã đã đóng cửa lại nhưng không ngăn nổi sự nổi giận của đám đông.

Thực hư tin đồn bắt cóc trẻ em ở Gia Lai, Tin tức trong ngày, bat coc tre em, mo bung lay noi tang, gia lai, tin don, tho dien, bao, tin tuc, tin hot, tin hay

Nhiều bà mẹ đã dắt con bỏ chạy khi thấy sự xuất hiện của PV

Trong lúc cửa bị phá, 1 trong 4 thợ điện là anh Phạm Văn Thế (1983, quê Khánh Hòa) hoảng sợ tháo chạy ra ngoài, lập tức bị nhiều người dân ùa tới hô lớn: “Đánh chết nó đi. Chúng là những kẻ sát nhân, hay bắt cóc trẻ em, mổ bụng lấy nội tạng man rợ”. Đám đông bị kích động đã xông vào đánh tới tấp khắp người, buộc lực lượng công an phải dùng bình xịt cay và phương tiện tham gia giải vây. Phải đến 20h cùng ngày, khi chính quyền địa phương cấp huyện cùng các lực lượng công an, phụ nữ, cựu chiến binh xuống vận động, phân tích rõ đó chỉ là sự hiểu nhầm, người dân mới ra về.

Rào làng, kéo con bỏ chạy như… ma đuổi

Quá lo sợ mất con, ở một số buôn làng, bà con đã có những hành động thái quá như làm rào chắn trước cổng làng không cho người lạ vào, kể cả những người hàng ngày qua lại buôn bán trong làng. Họ không cho con em mình đến lớp học hoặc bất cứ đi đâu. Có nhiều bà con ở huyện Chư Sê, Chư Prông đã không dám ở nhà rẫy của mình nữa mà tập trung vào một nhà để canh không cho kẻ lạ mặt vào và để bớt lo sợ.

Dù chỉ là tin đồn, nhưng nhân dân làng Băng, xã Ia Băng nói riêng, các xã trong huyện và khắp tỉnh này hầu như chưa ổn định tâm lý, vẫn tin chuyện bắt cóc trẻ, mổ bụng lấy nội tạng là có thật nên cảnh giác tối đa. Những ngày đầu tháng 2-2012, chúng tôi tìm về huyện Chư Prông nắm tình hình thực tế, khi qua địa bàn các xã Ia Kly, Ia Tol, mỗi khi dừng xe hỏi đường, người lớn trong làng ai cũng nhìn chúng tôi với cặp mắt đầy nghi vấn. Họ dắt tay nhóm trẻ đang đùa vui ven đường chạy như mà đuổi vào nhà.

Chị Rơ Lan Hòe (xã Ia Kly), lo ngại nói: “Các chú là người lạ chúng tôi không biết nên sợ lắm. Nếu các chú bắt con tôi mang mổ bụng bán lấy tiền thì tôi báo dân làng và công an bắt đó”. Vừa dứt lời, chị Hòe đã kéo con mình chạy thật nhanh trước sự ngạc nhiên của chúng tôi. Vùng quê Chư Prông đang yên bình bỗng trở nên hoang mang bởi tin đồn thất thiệt. Những đứa trẻ luôn bám sát cha mẹ, ánh mắt, cử chỉ của chúng cảnh giác tối đa mỗi khi thấy người lạ đến.

Kẻ xấu lợi dụng sự cả tin của bà con để tung tin đồn nhảm nhí

“Do nhận thức của người dân nơi đây là dễ tin, dễ nghe nên họ đã cho rằng tin đồn người lạ bắt cóc mổ bụng trẻ em là có thật. Công an huyện đã tham mưu cho huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo các ban nghành tuyên giáo, dân vận, mặt trận, đài truyền thanh xây dựng bài viết, phóng sự để tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; phản bác tin đồn, không để lan rộng rãi trong quần chúng nhân dân; chỉ đạo phòng giáo dục thông báo tình hình đến các trường học, đội ngũ giáo viên để tuyên truyền vận động học sinh, phụ huynh yên tâm về vấn đề trên”.

(Thiếu tá Rơ Mah Nam, Phó trưởng Công an huyện Chư Prông, Gia Lai)

Theo Nguyễn Tâm (Đời Sống & Pháp Luật)

Quyền của cá nhân gắn liền với nghĩa vụ công dân

Trong những vụ án vi phạm an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, đều bộc lộ sự lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch từ bên ngoài để can thiệp vào công việc nội bộ của Nhà nước ta. Rất tiếc, không ít người tham gia những vụ việc này đã thiếu hiểu biết về khái niệm quyền con người (QCN). Chính vì vậy, họ đã vi phạm chính những quy định mà pháp luật về QCN đã quy định.

Đến nay, chúng ta đều hiểu quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc. Mỗi dân tộc đều ít nhiều có những đóng góp vào giá trị đó. Cuộc Cách mạng Tháng Tám, các cuộc kháng chiến anh hùng với bao nhiêu hy sinh của đồng bào, chiến sĩ ta bảo vệ độc lập dân tộc là những đóng góp vô cùng lớn lao mang tính thời đại trong việc bảo vệ quyền sống còn của dân tộc Việt Nam, của người dân Việt Nam. Đồng thời, cũng là những đóng góp vào việc bảo vệ quyền con người của các dân tộc thuộc địa. Chính vì vậy, chúng ta không cho phép một cá nhân nào, một tổ chức nào, hoặc nhân danh một quốc gia nào được phép độc chiếm khái niệm đó.

Không ai phủ nhận quyền con người là một khái niệm chính trị – pháp lý cho đến nay vẫn còn đang tranh cãi. Song điều đó không có nghĩa ai muốn hiểu khái niệm này như thế nào cũng được và nhất là có thể xuyên tạc khái niệm ấy. Cho đến nay, cộng đồng quốc tế đã đồng thuận về khái niệm này dựa trên những văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc về QCN. Đó là: “Tuyên ngôn thế giới về QCN”, năm 1948;  hai Công ước “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”, “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, năm 1966; và “ Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”- văn kiện của Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo), năm 1993.

Về mặt học thuật, cho đến nay QCN vẫn được hiểu trên hai bình diện giá trị: Đó là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý. Với tư cách là một giá trị đạo đức, QCN là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Đó là nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng.

Về giá trị pháp lý, QCN là các quy định pháp luật (trong luật quốc gia và luật quốc tế) nhằm bảo vệ nhân phẩm, các nhu cầu về vật chất, tinh thần của tất cả mọi người, đồng thời cũng đòi hỏi mỗi người phải có nghĩa vụ đối với quốc gia, dân tộc và cộng đồng.

Vì mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội XHCN Việt Nam, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, cắt xén khái niệm QCN, đồng thời áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của những lực lượng cực đoan phương Tây cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những quan điểm đó là “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, là “tự do ngôn luận, tự do báo chí” (không có sự quản lý của Nhà nước), là “tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, là “tự do lập hội”, “tự do biểu tình”… (trái pháp luật). Lợi dụng những quyền này người ta đã xuyên tạc, bôi nhọ thể chế quốc gia (như đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội), chính sách, pháp luật của Nhà nước – nhất là chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ đã sử dụng những quan niệm dân chủ, nhân quyền đã bị xuyên tạc này để vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn xã hội.

Về trách nhiệm của quốc gia đối với QCN, “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”, năm 1966 quy định:  “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người… các quyền được công nhận trong Công ước này… không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác” (Điều 2.1). Về quy định này, hiện nay vẫn có người tự đặt quyền của mình hoặc của một dân tộc, một tôn giáo nào đó lên trên pháp luật. Nói cách khác là họ đòi quyền của mình được ưu tiên hơn những nhóm còn lại. Những người này không hiểu rằng bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc hàng đầu của luật quốc tế về QCN.

Về quyền của các quốc gia – dân tộc, công ước trên quy định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa …”. Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo), năm 1993, lại một lần nữa khẳng định việc “khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện có hiệu quả quyền này”. Điều này có nghĩa các dân tộc có quyền tự do lựa chọn, xây dựng chế độ chính trị, thể chế quốc gia như thế nào là quyền của các quốc gia – dân tộc. Cho dù sự lựa chọn đó là chế độ chính trị quân chủ hay dân chủ; thể chế “tam quyền phân lập” hay các nhánh quyền lực “phân công phối hợp”, chế độ chính trị  “đa đảng đối lập” hay một đảng lãnh đạo, cầm quyền… là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc,  không có bất cứ một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là Liên hợp quốc có quyền can thiệp.

Về mối quan hệ giữa quyền của cá nhân với  nghĩa vụ công dân – nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, “Tuyên ngôn thế giới về QCN” ghi: “1- Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng…”. Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự,  năm 1966 quy định: Tất cả mọi người đều có quyền được hưởng thụ các quyền dân sự, chính trị. Tuy nhiên, trong khi hưởng thụ những quyền đó, mọi người đều phải chịu một số hạn chế theo quy định của pháp luật quốc gia, “Do cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác …”.

Trong những nghĩa vụ công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Như vậy, nói đến QCN không thể chỉ nói đến bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân mà phải nói đến quyền và bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc (bao gồm cả những thể chế xã hội hợp Hiến); quyền của cộng đồng và quyền của người khác.

Nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều cơ hội và thách thức. “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Nhận thức rõ bối cảnh chính trị hiện nay, hiểu đúng khái niệm QCN, vạch trần những thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để phá hoại chế độ ta, giữ vững sự ổn định chính trị, phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Đại hội XI đã nêu, vừa là một mục tiêu và là một thách thức đối với chúng ta.

BẮC HÀ

qdnd.vn

ĐA ĐẢNG HAY MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẦM QUYỀN – ĐÂU LÀ CHÂN LÝ?

Đảng là một tổ chức chính trị của những người có chung một mục tiêu, lý tưởng tồn tại trong một chế độ xã hội nhất định. Mục tiêu trực tiếp của các đảng là tham chính. Mục tiêu cuối cùng thường là giành và giữ quyền lực nhà nước (chính quyền).

Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, các cuộc cách mạng lật đổ chế độ xã hội hoặc thay đổi lực lượng cầm quyền, còn gọi là “cách mạng màu” thường là kết quả của sự vận động, tập hợp lực lượng quần chúng lúc bí mật, khi công khai của các đảng chính trị. Đến lượt mình khi đã trở thành đảng cầm quyền, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, mà họ lựa chọn chế độ đa đảng hay “độc” đảng.

Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia thường không có một chế độ đa đảng hoặc một lãnh đạo – cầm quyền thuần khiết. Trong chế độ đa đảng, bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ. Trong chế độ một đảng cầm quyền thì thường được bổ sung bằng sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội chính thức (trong hệ thống chính trị) hoặc phi chính thức (các tổ chức phi chính phủ – NGOs).

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng chính trị với chế độ xã hội, nhiều người hoặc cố tình hoặc ngây thơ về chính trị đã bỏ qua nhiều yếu tố khác, như bối cảnh lịch sử cụ thể hoặc liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia, trật tự xã hội. Không ít người đã bị dẫn dắt, rơi vào sân chơi dân chủ, nhân quyền của các lực lượng chống cộng. Theo họ, mối quan hệ giữa chế độ đảng (đa đảng hoặc một đảng) lãnh đạo với dân chủ là mối quan hệ duy nhất. Đời sống đã chỉ ra không phải như vậy. Đa đảng không phải là không tốt, cũng như một đảng không phải là không có lý. Tình trạng quốc hội “treo” như ở Anh quốc vừa qua, hoặc cuộc xuống đường, xung đột giữa những người “áo đỏ” với Chính phủ đương nhiệm ở Thái Lan thiết tưởng giúp người ta có thêm các căn cứ để suy nghĩ về những khó khăn, phức tạp của chế độ dân chủ – đa đảng.

Ở Việt Nam cho đến nay có bao nhiêu quan điểm về đa đảng – xét trên các quan điểm chính trị?

- Thứ nhất, đó là quan điểm của các nhà dân chủ – hàn lâm (Academic Democracy). Theo họ dân chủ là động lực của phát triển. Chế độ dân chủ tất yếu phải gắn với đa đảng, với cạnh tranh về chính trị. Đương nhiên quan điểm của các nhà dân chủ – hàn lâm không sai về mặt lý thuyết, nhưng họ đã bỏ qua yếu tố đặc thù về lịch sử và thực tiễn chính trị ở các quốc gia.

Thứ hai, đó là quan điểm của các nhà dân chủ thực dụng. Quan điểm này cho rằng, hiện nay ở nước ta đang tồn tại rất nhiều vấn đề bức xúc của người dân do tình trạng quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm của cán bộ, công chức gây ra. Tình trạng này có thể giảm thiểu nếu có thêm các đảng phái khác tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Nhưng những nhà dân chủ thực dụng đã không thấy rằng, ở nhiều quốc gia “đa đảng” đâu phải không còn quan liêu tham nhũng. Mặt khác, quan điểm này đã không tính đến việc các thế lực thù địch có thể lợi dụng chế độ đa đảng để thực hiện mưu đồ xấu xa của họ.

Thứ ba, đó là quan điểm của các nhà dân chủ giả hiệu. Về lập luận, quan điểm của họ không khác các nhà dân chủ – hàn lâm. Thêm vào đó họ còn đưa ra chứng cứ như ở Việt Nam “đã từng có chế độ đa đảng”. Ví dụ như: “Quốc hội đầu tiên, 1946, là Quốc hội đa đảng (vì có 72 ghế tại Quốc hội không qua bầu cử, dành cho Việt Nam quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng Đảng), hoặc “Hiến pháp 1992 “hiển hiện” chế độ đa đảng” – vì Hiến pháp không quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo… (Trong bài viết này tác giả không có ý định tranh luận về những vấn đề trên).

Sự khác biệt căn bản của những người dân chủ giả hiệu với những người dân chủ hàn lâm là ở ý đồ chính trị. Với những người dân chủ giả hiệu, đây không chỉ là nhằm tuyên truyền học thuyết, mà là tham vọng thay đổi thể chế chính trị Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho các đảng phái chính trị ở hải ngoại “hồi hương” – như “Đảng Việt Tân”, “Liên minh dân chủ nhân quyền”, “Đảng Nhân dân hành động”, “Đảng Dân chủ Việt Nam”… Những đảng này không chỉ là những tổ chức chính trị chống cộng mà còn là những tổ chức mang tính chất khủng bố, hoạt động nhằm lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Điều này hoàn toàn đi ngược lại Hiến chương Liên hiệp quốc và nguyên tắc của Luật quốc tế. Đồng thời, việc tuyên truyền cho quan điểm đa đảng của họ còn nhằm tạo cơ hội cho những tổ chức đảng phái đang trong thời kỳ “thai nghén” tại “quốc nội” ra đời như “Đảng Xã hội Việt Nam”, “Đảng Dân chủ Việt Nam” do Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định chủ trương…

Trong số những người đang kêu gọi “đa nguyên”, “đa đảng” không loại trừ có kẻ đã từng thực hiện “Luật 10/59 – đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” đã chém giết hàng chục ngàn người cộng sản và người yêu nước trong những năm cuối thập kỷ 50 thế kỷ XX. Phần lớn những kẻ đang tuyên truyền cho đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập cho Việt Nam ở hải ngoại đều đang giữ hận thù với cách mạng hoặc xuyên tạc, phủ nhận thành quả cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó có cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau 35 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975- 2010), đây là lúc cả dân tộc tự hào và bày tỏ lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ, trong đó có hàng vạn cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã hy sinh thì Bùi Tín lại kêu gọi “Mọi người yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản thành khẩn xin lỗi toàn dân”! Có kẻ còn coi ngày đất nước được giải phóng là ngày “quốc hận”. Đó là chân dung của những kẻ đang đòi đa đảng ở hải ngoại.

Vậy cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì?

Về lịch sử ai cũng biết 80 năm qua (kể từ khi thành lập Đảng, 3/2/1930, đến nay), Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh gian khổ trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng nước Việt Nam hiện đại với chế độ dân chủ – cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quyền công dân và quyền con người của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp (1946). Tiếp đó Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược bảo vệ thành quả của cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế tạo nên vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Về chính trị – tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần cách mạng và sáng tạo. Mục tiêu của Đảng là: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia đồng thời xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hội nhập quốc tế trên tinh thần “Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trong cộng đồng quốc tế – không phân biệt chế độ xã hội”.

Những kẻ đang tuyên truyền cho đa đảng thường cũng là những kẻ đang bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam. Lập luận của họ theo lô-gích giả dối: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, Chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ (lập luận của họ thường là chép lại quan điểm của những kẻ chống cộng, như Brê-din-xky trong cuốn “Thất bại lớn” hoặc của Phu-ku-y-a-ma trong bài “Điểm tận cùng của lịch sử”) để suy ra: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm hệ tư tưởng tất nhiên sẽ trở thành một lực lượng chính trị lạc hậu; xã hội XHCN ở Việt Nam sẽ bị sụp đổ. Và, do đó Việt Nam cần phải có một đảng chính trị mới dẫn dắt dân tộc đi lên! Điểm khởi đầu là việc chấp nhận chế độ đa đảng! Tất nhiên những giáo sư, tiến sĩ, “viện sĩ”, “sử gia”, “nhà biên khảo”, nhà văn, nhà báo viết về dân chủ – đa đảng hầu hết họ đều đọc Mác một cách phiến diện, hoặc với tư duy tư biện. Họ hoặc cố tình che giấu, hoặc ngây thơ lờ đi tư duy mới, đường lối chính trị và chính sách mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH, trong đó Đảng ta đã thừa nhận những sai lầm khuyết điểm của mình trong thời kỳ trước đổi mới (như chủ quan duy ý chí, xóa bỏ kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường…). Đảng ta đã khẳng định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội và hội nhập với cộng đồng quốc tế…

Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Văn kiện Đại hội X viết: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Bởi vậy không thể nói Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng “độc quyền”. Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận trong Đảng hiện nay vẫn còn một số người lạm dụng uy tín của Đảng rơi vào căn bệnh quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đang bị thải loại trong cuộc chỉnh đốn đảng.

Về pháp lý, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Quốc hội nhất trí và được quy định tại Điều 4, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992). Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Tại Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) ghi: “Tất cả các Quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá” (1).

Vậy đa đảng, “độc” đảng – đâu là chân lý? Chân lý tồn tại ở thực tiễn, ở lợi ích tốt nhất cho dân tộc. Sự lựa chọn chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo – cầm quyền phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia. Trước tiên phải đặt lợi ích của cả dân tộc lên trên hết, phải lấy an ninh quốc gia, ổn định và phát triển bền vững làm tiền đề (cho các yêu cầu khác). Thứ hai, đương nhiên lựa chọn chế độ nào đều phải được sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân, thông qua những người đại diện của mình đó là Quốc hội.
—————–
1. Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người” HN.2002.tr 250

QĐND

Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập

Bấy lâu nay các thế lực thù địch với Việt Nam vẫn rêu rao tư tưởng “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, hòng truyền bá và kích động tư tưởng dân chủ vô chính phủ, loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng nước ta. Tuy nhiên, chúng ta đã nhiều lần khẳng định không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với những lý do dưới đây:

1. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là chế độ chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đa nguyên chính trị là một khuynh hướng xã hội học – triết học, tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các nhóm, đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, khi giai cấp tư sản còn là giai cấp tiến bộ trong đấu tranh chống độc quyền, bảo vệ sự đa dạng và bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản.

Khi các tổ chức độc quyền xuất hiện, đa nguyên chính trị mất dần ý nghĩa ban đầu, trở thành thủ đoạn để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các nhóm, tổ chức độc quyền có lực lượng ngang bằng nhau và là bình phong “dân chủ” che đậy sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội tư bản.

Khi chủ nghĩa xã hội xuất hiện, đa nguyên chính trị trở thành công cụ tư tưởng để giai cấp tư sản chống các nhà nước xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân và các trào lưu tiến bộ trên thế giới bằng việc đòi mở rộng quyền tự do dân chủ vô chính phủ, chống nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi thực hiện chế độ đa đảng, nhằm vô hiệu hóa và từng bước đẩy Đảng Cộng sản khỏi vị trí lãnh đạo xã hội, đòi xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản – bề ngoài đại diện cho lợi ích của tất cả các nhóm, đảng phái đối lập, nhưng thực chất đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản.

Như vậy, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tất yếu không phải là mô hình chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa.

2. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không bảo đảm được dân chủ đích thực. Bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Muốn thực hiện được nó thì trước tiên người lao động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất đại diện cho quyền lực của mình. Với một chế độ xã hội, thì hoặc quyền lực thuộc về giai cấp bóc lột hoặc thuộc về giai cấp bị bóc lột mà thôi. Không có thứ quyền lực hay dân chủ cho mọi giai cấp. Bản chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản bóc lột. Trả lời phỏng vấn và kết luận mới nhất của đoàn khảo sát Hoa Kỳ (6-2009) của các nhà khoa học Việt Nam cho thấy rõ điều này: Giáo sư Paul Mishler (Trường Đại học bang Indiana) khẳng định: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”(*)… Với lý do đó, đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực.

3. Lịch sử cách mạng Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu tự nhiên. Năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặt quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc, Đảng ta đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước.

Song, trong quá trình cách mạng, các tổ chức đảng phái hoặc phản động, hoặc có đường lối không đúng đắn, không vì quyền lợi của quốc gia, dân tộc đã lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo có đường lối cách mạng đúng đắn, vì quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động, vì nền độc lập và sự phát triển của đất nước đã được nhân dân lựa chọn là chính đảng duy nhất đại diện cho quyền lợi của mình.

Sau 1954, Đảng ta cũng chủ trương tổng tuyển cử tự do, thành lập chính phủ liên hiệp, thống nhất nước nhà, nhưng chính chính quyền Ngô Đình Diệm đã bác bỏ và phủ nhận thể chế đa nguyên đó. Mặt khác, được sự tiếp sức của đế quốc Mỹ, các thế lực phong kiến và phản động ở miền Nam cũng đã từng lập nên một chính thể đa nguyên với sự tham gia của nhiều đảng phái. Nhưng mục đích chính trị của các đảng phái đó lại chống lại nền độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân lao động, nên nhân dân cả nước ta đã đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó, thiết lập nên nền chính trị nhất nguyên và lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện duy nhất cho quyền lợi của nhân dân lao động và cả dân tộc. Tính tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên đó đã và đang được nhân dân ta khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam – một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở nước ta là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự phát triển trong đa dạng các sắc màu văn hóa dân tộc; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện con người… Những thành tựu không thể phủ nhận của nền chính trị nhất nguyên đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

5. Dư luận quốc tế, chính phủ và nhân dân các nước dân chủ, tiến bộ trên thế giới đánh giá cao, ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ nhất nguyên ở Việt Nam. Trước những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, dư luận quốc tế, chính phủ nhiều nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới đã bày tỏ sự khâm phục và ủng hộ chế độ chính trị ở Việt Nam. Nhiều đoàn đại biểu quốc tế sang Việt Nam nghiên cứu và học tập kinh nghiệm về xây dựng sự ổn định chính trị xã hội. Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, ngày 17-6-2007, tờ The Straits Times đã viết: “Việt Nam là đất nước ổn định, người dân làm việc chăm chỉ và đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Với những yếu tố này cộng lại, Việt Nam là mỏ vàng cho các nhà đầu tư Mỹ nào biết nắm bắt cơ hội”.

Dưới con mắt của Tiến sĩ Sổm Phắt Mana Rangsam (Thái Lan), 2 trong 4 thế mạnh của Việt Nam so với Thái Lan là các nhà lãnh đạo Chính phủ Việt Nam hiện nay là những nhân vật năng động, có khả năng điều hành kinh tế. Việt Nam có chế độ chính trị ổn định và nhất quán trong chiến lược phát triển kinh tế, Việt kiều đã có ý thức hướng về quê hương.

Còn cựu chiến binh Mỹ Thomas A.Hutchings – người đã từng tham chiến ở Việt Nam đã viết: “Việt Nam đang thay đổi và có một lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước thật hào hùng. Bất cứ nỗ lực bên ngoài nào để áp đặt “những giá trị dân chủ kiểu Mỹ” và kêu gọi chấp nhận thể chế đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam thì Việt Nam phải kiên quyết từ chối và bác bỏ”…

Còn nhiều lý do khác để khẳng định sự bác bỏ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam là có cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn. Để củng cố quyết tâm chính trị này, cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân ta cần tiếp tục trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức chính trị, đề cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm và tư tưởng thù địch sai trái, giữ vững ổn định chính trị ở nước ta.

Thượng tá, Tiến sĩ NGUYỄN VĂN QUANG

Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng

Toàn dân góp sức đòi lại Hoàng Sa

Đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là một việc lớn và lâu dài. Có rất nhiều việc phải làm và điều chắc chắn là phải huy động lực lượng và cần có thời gian. Đây chắc chắn phải là sự nghiệp toàn dân.

Các bạn trẻ Lý Sơn (Quảng Ngãi) tìm hiểu các hiện vật về Hoàng Sa tại Bảo tàng Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở Lý Sơn - Ảnh: M.Thu

Bước đầu tiên trong việc đòi lại Hoàng Sa là để cho toàn dân thấy được sự thật và tạo điều kiện cho người dân tham gia sự nghiệp này.

Muốn vậy, trước hết cần công khai hiện trạng Hoàng Sa đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm cho toàn dân biết. Và ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc này tại Quốc hội.

Báo chí – truyền thông không chỉ tường thuật một lần mà phải nhắc đi nhắc lại thường xuyên liên tục, để vấn đề đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình đến được với mọi người dân, tạo cơ sở cho toàn dân góp sức.

Trên thực tế, ngay từ khi Hoàng Sa vẫn còn bị cho là “vấn đề nhạy cảm”, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cần thực hiện chiến lược 3C: Công khai – Công luận – Công pháp đối với tranh chấp biển Đông.

Có thể diễn giải chiến lược 3C này sơ lược như sau: trước hết, cần công khai hiện trạng tranh chấp biển Đông nói chung và Hoàng Sa bị cưỡng chiếm nói riêng, đồng thời công khai lập trường của các bên, công khai các sự kiện nghiêm trọng xảy ra cho toàn dân biết.

Từ đó, sử dụng công luận, mà cụ thể là báo chí – truyền thông, nói cho toàn dân và nhân dân thế giới biết sự thật về tranh chấp biển Đông, trong đó có việc Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974 để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông.

Trong cuộc đấu tranh này, vũ khí hòa bình nhưng sắc bén là công pháp, tức luật pháp quốc tế, các án lệ, Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông…

Như vậy có thể thấy việc sử dụng Công khai – Công luận – Công pháp như một số nhà nghiên cứu gợi ý để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở biển Đông là một sáng tạo đáng ghi nhận, một bước cụ thể hóa của quan điểm coi việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Sẽ còn nhiều sáng kiến nữa được đưa ra khi thực trạng về tình hình tranh chấp biển Đông được công khai hóa và thảo luận rộng rãi dưới tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Với những kinh nghiệm quý báu của dân ta trong sự nghiệp giữ nước, chắc chắn việc đòi lại Hoàng Sa nói riêng và bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung bằng biện pháp hòa bình sẽ mang lại những kết quả mới nếu toàn dân được tham gia.

Đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Không thể khác.

GIÁP VĂN DƯƠNG

 

 

Chi ngân sách thường xuyên cho huyện đảo Hoàng Sa

Ngày 28-11, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Bá Thanh – bí thư Thành ủy Đà Nẵng – cho biết TP Đà Nẵng năm nào cũng chi ngân sách để các cán bộ chuyên trách huyện đảo này làm nhiệm vụ sưu tầm, trưng bày, giới thiệu hình ảnh, tư liệu về Hoàng Sa. Các tư liệu này được giới thiệu tại phòng trưng bày Bảo tàng Hoàng Sa (đặt tại trụ sở huyện Hoàng Sa, số 32 Yên Bái, TP Đà Nẵng).

Hoàng Sa là đơn vị hành chính cấp quận huyện thứ tám của TP Đà Nẵng và có tổ chức bầu cử. Trước đó tháng 3-2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc công nhận huyện đảo Hoàng Sa là một đơn vị bầu cử của TP Đà Nẵng. Huyện đảo Hoàng Sa cùng với huyện Hòa Vang và hai quận Hải Châu, Sơn Trà thuộc đơn vị bầu cử số 1 TP Đà Nẵng.

Trước đó Nhà xuất bản Thông Tin & Truyền Thông (Bộ Thông tin – truyền thông) đã họp với Hội đồng thẩm định trung ương do giáo sư Phan Huy Lê – chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – chủ trì để rà soát chuẩn bị lần cuối trước khi cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa được xuất bản vào cuối năm nay.

Theo ông Đặng Công Ngữ – chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa dày hơn 200 trang, gồm các phần: Hoàng Sa là của Việt Nam, Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa, Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử, Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa. Ngoài ra Kỷ yếu Hoàng Sa còn giới thiệu cho người đọc về vị trí địa lý, tầm quan trọng cùng những nội dung cơ bản của quá trình xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trong lịch sử.

Điểm nổi trội của cuốn sách này là sự hiện diện của 24 nhân chứng sống từng có một thời làm việc tại Hoàng Sa trước năm 1974. Việc xuất bản cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của nhân dân về bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc. Đồng thời cuốn sách còn nhằm bảo đảm tính khoa học, chuẩn xác và tính pháp lý để tạo lập niềm tin cho người đọc cũng như đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc không đúng sự thật về Hoàng Sa của Việt Nam.

Đ.NAM – H.KHÁ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.